Thuốc bôi Ruxolitinib điều trị viêm da dị ứng không liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư tế bào sừng.

THÔNG TIN NGHIÊN CỨU: THUỐC BÔI RUXOLITINIB ĐIỀU TRỊ VIÊM DA DỊ ỨNG KHÔNG LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC TĂNG NGUY CƠ UNG THƯ TẾ BÀO SỪNG.Tính an toàn của kem ruxolitinib 1,5% ở bệnh nhân viêm da cơ địa là thuận lợi và tương đương với bệnh nhân dùng dupilumab hoặc corticosteroid bôi ngoài da, cũng như bệnh nhân chưa từng điều trị trước đó.
Tính an toàn của kem ruxolitinib 1,5% ở bệnh nhân viêm da cơ địa là thuận lợi và tương đương với bệnh nhân dùng dupilumab hoặc corticosteroid bôi ngoài da, cũng như bệnh nhân chưa từng điều trị trước đó.
Tính an toàn của kem ruxolitinib 1,5% ở bệnh nhân viêm da cơ địa là thuận lợi và tương đương với bệnh nhân dùng dupilumab hoặc corticosteroid bôi ngoài da, cũng như bệnh nhân chưa từng điều trị trước đó.

Theo kết quả nghiên cứu được trình bày tại Hội nghị thường niên năm 2026 của Học viện Da liễu Hoa Kỳ (AAD) diễn ra tại Denver, Colorado từ ngày 27 đến 31 tháng 3, kem bôi ruxolitinib 1,5% không liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư biểu mô tế bào sừng (KC) ở bệnh nhân viêm da cơ địa (AD) so với các phương pháp điều trị khác.

Xem thêm

Kem Ruxolitinib 1,5% có cảnh báo đóng khung về bệnh dày sừng nang lông (KC), chủ yếu xuất phát từ các rủi ro liên quan đến thuốc ức chế Janus kinase (JAK) đường uống. Các phân tích thực tế chưa cho thấy rõ ràng nguy cơ mắc KC tăng lên ở nhóm bệnh nhân này, và hồ sơ an toàn lâu dài của ruxolitinib bôi ngoài da trong điều trị viêm da cơ địa vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn.

Các nhà nghiên cứu đã tiến hành một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu sử dụng dữ liệu tổng hợp đã được ẩn danh từ Mạng lưới hợp tác toàn cầu TriNetX. Các nhà nghiên cứu đã xác định những bệnh nhân mắc bệnh viêm da dị ứng (AD) được điều trị bằng kem ruxolitinib 1,5%, dupilumab hoặc corticosteroid bôi ngoài da, cũng như những bệnh nhân chưa từng điều trị. Những bệnh nhân đang sử dụng các thuốc sinh học khác hoặc thuốc ức chế JAK được phê duyệt cho bệnh AD đã bị loại trừ. Các đoàn hệ được ghép cặp theo điểm xu hướng 1:1 dựa trên tuổi, chủng tộc, giới tính và việc sử dụng corticosteroid toàn thân ở thời điểm ban đầu. Tỷ lệ nguy cơ (HR) được tính toán bằng phân tích Kaplan-Meier để đánh giá nguy cơ phát triển bệnh dày sừng nang lông (KC).

Việc sử dụng ruxolitinib tại chỗ không liên quan đến nguy cơ mắc bệnh dày sừng nang lông (KC) tăng cao so với bệnh nhân chưa từng điều trị (HR, 1,35; 95% CI, 0,78-2,34; P = 0,28) hoặc những bệnh nhân được điều trị bằng corticosteroid tại chỗ (HR, 1,49; 95% CI, 0,83-2,67; = 0,18) hoặc dupilumab (HR, 1,23; 95% CI, 0,69-2,20; P = 0,47). Phân tích ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào đáy cũng không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm. Những phát hiện này nhất quán trên tất cả các nhóm so sánh.

 Cần có các nghiên cứu tiềm năng đánh giá nguy cơ mắc bệnh dày sừng nang lông theo thời gian ở những bệnh nhân viêm da cơ địa được điều trị bằng ruxolitinib bôi ngoài da để xác nhận các phát hiện từ nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu thực tế này.

Trong các nhóm đối chứng, tỷ lệ mắc bệnh KC thấp ở tất cả các nhóm. So với ruxolitinib bôi tại chỗ, số ca mắc bệnh lần lượt là 29 so với 24 ở bệnh nhân chưa từng điều trị, 23 so với 28 ở nhóm dùng corticosteroid bôi tại chỗ và 23 so với 26 ở nhóm dùng dupilumab.

“Thuốc bôi ruxolitinib cho thấy hồ sơ an toàn thuận lợi liên quan đến sự phát triển của bệnh dày sừng nang lông,” các nhà nghiên cứu lưu ý. Họ nói thêm, “Cần có các nghiên cứu tiền cứu đánh giá nguy cơ mắc bệnh dày sừng nang lông theo thời gian ở những bệnh nhân viêm da cơ địa được điều trị bằng ruxolitinib bôi ngoài da để xác nhận các phát hiện từ nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu thực tế này.”

Related Posts

Next Post

Bài xem nhiều