Thuốc ức chế Interleukin (IL)-23 làm giảm tỷ lệ tử vong và nguy cơ nhiễm trùng nhưng làm tăng nguy cơ ung thư da không phải u hắc tố (NMSC) và nguy cơ mắc bệnh ác tính so với thuốc ức chế IL-17 ở bệnh nhân bị bệnh vảy nến. Kết quả nghiên cứu này đã được trình bày tại Hội nghị thường niên năm 2026 của Học viện Da liễu Hoa Kỳ (AAD) được tổ chức tại Denver, Colorado từ ngày 27 đến 31 tháng 3.
Các nhà nghiên cứu đã tìm cách so sánh kết quả an toàn thực tế của thuốc ức chế IL-17 so với thuốc ức chế IL-23 ở người lớn mắc bệnh vảy nến . Để thực hiện điều này, họ đã tiến hành một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đa quốc gia sử dụng dữ liệu từ Mạng lưới hợp tác toàn cầu TriNetX.
Các bệnh nhân mắc bệnh vảy nến bắt đầu điều trị bằng thuốc ức chế IL-23 (guselkumab, risankizumab hoặc tildrakizumab) hoặc thuốc ức chế IL-17 (secukinumab, ixekizumab hoặc brodalumab) đã được xác định và ghép cặp, tạo thành 18.235 bệnh nhân mỗi nhóm. Phương pháp ghép cặp điểm xu hướng được thực hiện để cân bằng các liệu pháp điều trị đồng thời, các bệnh lý đi kèm và đặc điểm nhân khẩu học. Các yếu tố được cân bằng bao gồm tăng huyết áp, suy tim, béo phì, tiểu đường, bệnh thận mãn tính, tiền sử nhồi máu cơ tim, sử dụng thuốc lá và sử dụng corticosteroid. Thời gian theo dõi trung bình là hơn 2 năm.
Khi so sánh nhóm IL-23 với nhóm IL-17, tỷ lệ mắc các biến cố tim mạch nghiêm trọng ( MACE ) là tương tự nhau (tỷ lệ nguy cơ [HR], 1,07; khoảng tin cậy 95% [CI], 0,92-1,25; P = 0,39). Nguy cơ nhập viện cũng tương tự giữa hai nhóm (HR, 1,01; khoảng tin cậy 95% [CI], 0,79-1,28; P = 0,96).
Những phát hiện này cho thấy một sự đánh đổi về an toàn có ý nghĩa lâm sàng, hỗ trợ việc lựa chọn thuốc sinh học dựa trên từng cá thể và phân tầng theo nguy cơ trong điều trị bệnh vảy nến lâu dài.
Tỷ lệ tử vong chung giảm đáng kể khi điều trị bằng IL-23 so với điều trị bằng IL-17 (HR, 0,78; 95% CI, 0,66-0,91; P = 0,001), cũng như nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng (HR, 0,83; 95% CI, 0,76-0,91; P < 0,001). Sự giảm tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân có thể phản ánh gánh nặng nhiễm trùng thấp hơn.
Tuy nhiên, thuốc ức chế IL-23 cũng liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc ung thư da không phải u hắc tố (NMSC) (HR, 1,37; 95% CI, 1,14-1,66; P = 0,001) và tăng nguy cơ mắc bệnh ác tính (HR, 1,15; 95% CI, 1,02-1,30; P = 0,02). Nguy cơ mắc NMSC và bệnh ác tính cao hơn có thể phản ánh sự khác biệt về cường độ theo dõi, ức chế miễn dịch hoặc thời gian theo dõi dài hơn trong nhóm dùng IL-23.
Những hạn chế của nghiên cứu bao gồm thiết kế hồi cứu, thời gian theo dõi khác nhau giữa các nhóm, nhiễu tồn dư và thiếu dữ liệu về mức độ nghiêm trọng của bệnh.
“Nghiên cứu so sánh trực tiếp đa trung tâm, thực tế đầu tiên giữa thuốc ức chế IL-23 và IL-17 trong điều trị bệnh vảy nến cho thấy sự đánh đổi về hiệu quả điều trị: thuốc ức chế IL-23 làm giảm nguy cơ nhiễm trùng và tử vong nhưng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ác tính và ung thư da không phải u hắc tố so với thuốc ức chế IL-17”, các nhà nghiên cứu kết luận. Họ nói thêm: “Những phát hiện này cho thấy sự đánh đổi về an toàn có ý nghĩa lâm sàng, hỗ trợ việc lựa chọn thuốc sinh học cá thể hóa, phân tầng theo nguy cơ trong quản lý bệnh vảy nến lâu dài.”





