Viêm loét dạ dày tá tràng nặng có liên quan đến nguy cơ cao mắc viêm khớp vảy nến, viêm khớp dạng thấp, hội chứng Sjögren

Mặc dù tỷ lệ mắc một số bệnh lý đi kèm do hệ miễn dịch cao hơn ở những bệnh nhân bị nổi mề đay tự phát mãn tính nặng, nhưng tỷ lệ mắc bệnh bạch biến, vảy nến và lupus ban đỏ hệ thống lại không có sự gia tăng đáng kể.

Theo kết quả nghiên cứu được trình bày tại Hội nghị thường niên năm 2026 của Học viện Da liễu Hoa Kỳ (AAD) diễn ra tại Denver, Colorado từ ngày 27 đến 31 tháng 3, chứng mề đay tự phát mạn tính (CSU) nghiêm trọng hơn có liên quan đến nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp khởi phát mới, hội chứng Sjögren và viêm khớp vảy nến cao hơn so với những người mắc CSU nhẹ.

Xem thêm

Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu dựa trên dân số được thực hiện bằng cách sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu TriNetX từ ngày 1 tháng 1 năm 2005 đến ngày 19 tháng 8 năm 2025, nhằm xác định liệu bệnh nhân mắc CSU từ mức độ trung bình đến nặng có nguy cơ mắc các bệnh lý đồng mắc do miễn dịch cao hơn so với các bệnh nhân được lựa chọn phù hợp mắc CSU ở mức độ nhẹ hay không.

Phân tích này bao gồm 37.746 người trưởng thành mắc bệnh nổi mề đay mạn tính (CSU) mà không kèm theo viêm da cơ địa, được xác định bằng mã ICD-10. Các bệnh nhân mắc bệnh từ mức độ trung bình đến nặng được điều trị bằng omalizumab, dupilumab hoặc cyclosporine, còn những bệnh nhân mắc bệnh nhẹ thì không bao giờ được điều trị bằng thuốc sinh học hoặc cyclosporine. Sau khi đối sánh theo tuổi, giới tính, chủng tộc và dân tộc, có 18.873 bệnh nhân được đưa vào nhóm mắc bệnh từ trung bình đến nặng và 18.873 bệnh nhân được đưa vào nhóm mắc bệnh nhẹ.

Bệnh nhân mắc chứng nổi mề đay mãn tính từ mức độ trung bình đến nặng có nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp cao hơn đáng kể về mặt thống kê (tỷ lệ chênh lệch [OR], 1,263; khoảng tin cậy 95% [CI], 1,086-1,47; P = 0,003), hội chứng Sjögren (OR, 2,387; CI 95%, 1,966-2,898; < 0,0001) và viêm khớp vảy nến (OR, 1,93; CI 95%, 1,371-2,719; P = 0,0005), sau khi điều chỉnh các yếu tố lâm sàng và kiểm định đa giả thuyết.

Kiến thức này rất quan trọng để dự đoán tiên lượng và diễn biến bệnh của CSU và tối ưu hóa việc quản lý chăm sóc cho những bệnh nhân này.

Không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm về tỷ lệ mắc các bệnh đồng mắc sau:

  • Viêm tuyến giáp tự miễn (OR, 1,193);
  • Bệnh bạch biến (OR, 1,237);
  • Thiếu máu ác tính (OR, 0,954);
  • Bệnh lupus ban đỏ hệ thống (OR, 1,37);
  • Bệnh Celiac (OR, 1,322);
  • Bệnh Graves (OR, 0,879);
  • Bệnh Crohn (OR, 1,257);
  • Viêm loét đại tràng (OR, 0,983);
  • Xơ cứng hệ thống (OR, 1,872);
  • Hội chứng đau xơ cơ (OR, 1,045);
  • Bệnh tiểu đường loại 1 (OR, 0,861); và
  • Bệnh vảy nến (OR, 1,108).

Các nhà nghiên cứu cho biết: “Kiến thức này rất quan trọng để dự đoán tiên lượng và diễn biến bệnh của CSU , đồng thời tối ưu hóa việc quản lý chăm sóc cho những bệnh nhân này”.

Related Posts

Next Post

Bài xem nhiều