Theo kết quả nghiên cứu được trình bày tại Hội nghị thường niên của Học viện Da liễu Hoa Kỳ (AAD) năm 2026, diễn ra tại Denver, Colorado, từ ngày 27 đến 31 tháng 3, ở những bệnh nhân đã bị mụn trứng cá viêm từ trước, việc bắt đầu điều trị bằng thuốc sinh học có liên quan đến nguy cơ phải chuyển sang điều trị mụn trứng cá toàn thân cao hơn so với những người không sử dụng thuốc sinh học.
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu bao gồm người lớn bị mụn trứng cá viêm được xác định thông qua cơ sở dữ liệu TriNetX Global. Bệnh nhân được kê đơn thuốc sinh học được ghép cặp theo tỷ lệ 1:1 dựa trên tuổi tác, giới tính và chủng tộc với nhóm bệnh nhân đối chứng không sử dụng thuốc sinh học. Tỷ lệ rủi ro (RR) của bất kỳ phương pháp điều trị mụn trứng cá toàn thân nào cũng được xem xét, bao gồm doxycycline, minocycline, sarecycline, spironolactone và isotretinoin. Ngoài ra, các loại thuốc thuộc nhóm tetracycline, spironolactone và isotretinoin cũng được xem xét riêng lẻ.
Cả nhóm điều trị sinh học và nhóm chưa từng điều trị sinh học đều có 6476 bệnh nhân. Tuổi trung bình (độ lệch chuẩn) là 34,2 (13,9) năm. Khoảng 65,2% bệnh nhân là nữ và 60,3% là người da trắng.
Điều này có thể là do sự lệch hướng Th1/Th17 hơn nữa do liệu pháp sinh học, từ đó làm trầm trọng thêm tình trạng rối loạn điều hòa miễn dịch và khiến bệnh nhân kháng lại các phương pháp điều trị tại chỗ.
Bệnh nhân được điều trị bằng liệu pháp sinh học có nguy cơ phải chuyển sang điều trị mụn trứng cá toàn thân cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (RR, 1,23; 95% CI, 1,17-1,28; P < 0,0001). Cụ thể, tetracycline (RR, 1,36; 95% CI, 1,29-1,43; P < 0,0001) và spironolactone (RR, 1,53; 95% CI, 1,41-1,66; P < 0,0001) có liên quan đến nguy cơ cao nhất. Isotretinoin không cho thấy sự khác biệt nào giữa những người được điều trị bằng liệu pháp sinh học và những người chưa từng điều trị bằng liệu pháp sinh học (RR, 0,97; 95% CI, 0,89-1,05; P = 0,41).
Các nhà nghiên cứu kết luận: “Điều này có thể là do sự lệch hướng Th1/Th17 hơn nữa do liệu pháp sinh học, từ đó làm trầm trọng thêm tình trạng rối loạn điều hòa miễn dịch và khiến bệnh nhân kháng lại các phương pháp điều trị tại chỗ. Cần có thêm các nghiên cứu để làm rõ ý nghĩa lâm sàng và cơ sở cơ chế của những phát hiện này.”





